NHA TRANG NGÀY VỀ
Tôi đang ngồi bên bãi cát Nha Trang, ngắm nhìn sóng nước nối tiếp xô bờ mà ngỡ là lớp lớp người quen đã đến với đời tôi rồi lặng lẽ ra đi.
Tôi đến Nha Trang vội vã sau chuyến đi dài qua nhiều thành phố miền trung và cảm thấy người dân quê tôi sao quá đa đoan và vất vả. Cái nóng cháy da đến khô người, theo ánh nắng mùa hè, đổ xuống những mái nhà cũ nát nằm dọc bên lối nhỏ làng quê. Bên trong các ngôi nhà xiêu vẹo ấy là tiếng khóc của người già hay là nụ cười trẻ thơ? Phận người nhỏ nhen, buồn vui trôi nổi theo dòng đời vô định. Đến bao giờ họ mới có thể tìm được một phần nào đó cái dáng vẻ thư thái pha thêm chút ít kiêu kỳ như những người bạn của tôi trên các trang mạng xã hội?
Một ly sinh tố trái cây chất lượng như nhau nhưng có giá khác nhau. Ở Sài Gòn là chừng 60 ngàn đồng, ở ngay trung tâm Huế hay Đà Nẵng là 40 ngàn. Trong khi đó, tại một thị trấn hẻo lánh xa xôi thì nó chỉ vừa 20 ngàn. Thế mới biết, giá trị một món hàng (cũng có khi là một con người) ít phụ thuộc vào chất lượng vốn có mà lại phụ thuộc rất nhiều vào nơi mà nó được sinh ra.
Thế gian này có lắm ma. Những con ma đang ngồi chễm chệ giữa Moskva đe dọa thế giới. Những bóng ma vừa “ngạo nghễ” vừa ngây thơ, khi không biết giá trị của vài chục tỷ đồng trong túi, đang lảng vảng giữa pháp đình Hà Nội. Ma ẩn hiện khắp mọi nơi... Chỉ tội nghiệp cho người dân lam lũ quê tôi. Có khi, họ lại tưởng rằng đó chính là các thiên thần đang bước xuống trần gian để cứu rỗi con người.
Thế nên, đầu óc tôi quay cuồng xoay quanh những mẩu chuyện nhân tình thế thái, không sao tìm được một ý thơ hay để viết về Nha Trang, nơi mà tôi vừa đến. Thôi thì, đành đăng lại bài đã viết về Nha Trang cách đây vài năm (có chỉnh sửa đôi chút) mà, theo tôi nghĩ, sau này tôi cũng khó có thể viết về Nha Trang tốt hơn được nữa.
_________________________________________________
Tôi đến Nha Trang vào lúc trời đã về chiều. Đây là trạm dừng chân cuối cùng của tôi, trước khi trở về Sài Gòn, sau một chuyến đi dài. Nơi này, biển, nắng, gió, bãi cát dài cùng những con người nơi đây đã tạo nên một thành phố thơ mộng.
Nha Trang, biển đầy. Ngọn gió êm ả từ phía xa xa đưa sóng nước lại gần, tuôn dài vào bãi cát, dịu êm, như vỗ về, như thì thầm lời nói yêu thương. Nhìn tia nắng ấm chói chang từ ánh Mặt Trời chiếu xuống mà cứ ngỡ rằng đời người được kết bằng những sợi tơ vàng, kéo dài từ phía trời cao, mong manh giữa biển cả bao la.
Tôi đi dọc theo bãi cát dài. Cát trắng xoá, óng ả sắc vàng. Bãi cát trải dài xa tắp đến ngút ngàn, dẫn về phía chân trời, như một lối mòn đã mở vươn đến cõi thiên thai dành cho người trần thế. Từ xa xa, các ngọn núi mờ ảo nhấp nhô, ẩn hiện sau màn hơi của nước, dường như chúng vừa được sinh ra từ giữa lòng biển xa.
Hãy hít thở mùi hương trong gió thơm thơ, hãy lắng nghe tiếng rì rào của sóng để thấu hiểu chuyện đời của biển. Không một ai, một khi đã đứng trước biển, lại không cảm thấy cái mênh mông đến khôn cùng. Đứng trước biển, kiếp người chỉ là một thoáng vu vơ, giống như con ốc sên cuộn mình trong cát. Nhỏ nhoi.
Đêm nay, tôi nằm đây, nghe “Nha Trang ngày về” mà Phạm Duy đã sáng tác vào năm 1969. Bài hát là một câu chuyện tình năm xưa đã mất, giống như cơn sóng biển xô bờ xoá tan mọi dấu vết của lâu đài trên cát. Mọi thứ như là bọt biển, rồi sẽ dần tan biến vào hư không. Hơn hai mươi năm trước, lần đầu tiên tôi đến Nha Trang giữa cái háo hức tìm kiếm danh vọng đời người. Đêm nay, tôi lại bước trên bãi khuya. Đêm nay không còn trăng soi, tôi không tìm lại được vết chân năm nào. Phôi pha.
Quả là thiếu sót nếu không nhắc đến bác sĩ Alexandre Yersin. Điều gì đã khiến một bác sĩ tài năng từ bỏ danh vọng vừa chớm ở Paris hoa lệ để chọn xóm Cồn nghèo khó cùng những con người nghèo khó làm quê hương thứ hai khi tuổi đời chỉ vừa 27, vào năm 1890? Ông chữa bệnh miễn phí cho người nghèo mặc dù không phân biệt nổi người Việt giàu và nghèo. Ông dạy mọi người mọi thứ có thể. Thật trớ trêu, khi đã từ chối danh vọng thì danh vọng lại tìm đến ông. BS Yersin là người đầu tiên phát hiện vì trùng bệnh dịch hạch (virus mang tên ông), người đầu tiên phát hiện cao nguyên Lâm Viên và thành phố Đà Lạt, người thành lập các viện Pasteur ở Việt Nam... Ông mất năm 1943 giữa vòng tay yêu thương của hàng triệu người Việt và người Nha Trang khi đó.
Cách trung tâm thành phố không xa là một công trình kiến trúc tuyệt đẹp của người Chămpa xưa, mang tên tháp bà Po Nagar.
Tháp bà Po Nagar màu nâu đỏ, cổ kính, uy nghi, nhô cao lên giữa khoảng không tĩnh lặng, được bao phủ bởi một màu xanh thẫm từ những hàng cây cổ thụ rợp bóng. 1300 năm trước (khoảng giữa những năm 700), khi người Giao Chỉ chỉ là “bộ lạc thiểu số” trong một phiên trấn nhỏ bé của đế quốc nhà Đường thì từ nơi đây, một thành đô Chămpa sầm uất, tháp bà Po Nagar của vương quốc Chămpa hùng mạnh, được dựng lên. Đi ngang qua những tháp trụ bát giác bằng gạch nung vút cao, cảm thấy hồn thiên từ những năm xưa hiện về, u ẩn với bao điều kỳ bí không thể thấu hiểu. Văng vẳng từ nghìn năm trước vọng lại là tiếng kinh nguyện cầu từ những buổi tế lễ theo nghi thức Hindu. Hình tượng nữ thần Durga (vợ của thần Shiva) được chạm khắc vào tháp làm cho điệu múa của bà trường tồn cả nghìn năm, không thể phai mờ. Bên trong, ở một góc nhỏ cuối tháp, không gian trở nên lạnh lẽo pha thêm chút ít u ẩn, hình tượng bà Po Nagar, 10 cánh tay, ngồi uy nghiêm trên một phiến đá.
Po Nagar, vị nữ thần Chămpa được tạo nên từ bọt biển và ánh sáng mây trời, được sinh ra từ giữa biển khơi. Khi bà bước lên bờ, cây cỏ bỗng nở hoa thơm ngát, chim chóc hót líu lo vang khắp mọi nơi. Bà dạy cho người trần thế mọi thứ, từ trồng trọt, dệt vải cho đến chăn nuôi và mọi điệu múa.
Lịch sử có khi được viết bằng máu và thấm đẫm nước mắt. Từ xa xa, nhìn vẻ bi tráng bao trùm cả vùng không gian của tháp bà Po Nagar, bị bao vây bởi những ngôi nhà Việt mọc lên lởm chởm, mà nghĩ tới nỗi đau thương uất hận trong lịch sử bang giao Việt – Chămpa khi xưa. Sự hy sinh các công chúa Đại Việt đã viết nên lịch sử. Năm 1306, Huyền Trân về Chămpa để nước Việt có thêm Thuận Hóa. Năm 1631, công chúa Ngọc Khoa của chúa Hiền, Nguyễn Phúc Tần, trở thành hoàng hậu Chămpa thì lập tức vương quốc này bước ngay vào thời kỳ suy vong cuối cùng, không thể cứu vãn.
Năm 1653, đoàn quân Đại Việt tiến vào Kauthara (phiên âm tiếng Việt là Khánh Hòa?). Một làng chài Chămpa nhỏ bé ven biển, có tên Jatrang, được Việt hóa thành Nha Trang. Theo bước đường nam tiến, người Việt từ xa xôi kéo về, lấy đi mọi thứ, Việt hóa mọi thứ từ trong tay người Chămpa. Ngay cả nữ thần Po Nagar cũng phải Việt hóa. Người Việt đã tạo nên một truyền thuyết mới và một cái tên thuần Việt, Thiên Y Thánh Mẫu, cho nữ thần. Po Nagar đã phải lui về một phía để nhường chỗ cho Thánh Mẫu. Thông thường, các nữ thần Hindu luôn có hình tượng bán khỏa thân trong các bức phù điêu hay tranh vẽ. Ban đầu, tượng bà Po Nagar khỏa thân ngồi trên phiến đá đến cả ngàn năm. Thế mà, người Việt đã mặc áo cho bà thành nữ thần Việt, có tên Thiên Y, với chiếc áo vàng của nhà Phật, theo cái cách văn hóa Việt.
Một chiếc áo nhà Phật của người Việt nằm ngay giữa một quần thể kiến trúc và văn hóa Hindu của người Chămpa xưa. Còn gì kỳ lạ hơn?
Lẽ nào? Như một cơn mộng mị buổi ban trưa, tôi chợt nhớ đến truyền thuyết chùa Thiên Mụ ở Huế. Ngày xưa, từ lâu lắm, một bà già tóc trắng xóa, mặc áo đỏ, quần xanh lá, mỗi khi đêm về, bay nhè nhẹ ngang qua những hàng cây cao vút ở đồi Hà Khê với giọng vang xa “Ai xây cho nơi đây một cái chùa thì người đó sẽ thống lĩnh giang san!”. Thế là, sau đó, một ngôi chùa đã được dựng lên ở đỉnh đồi Hà Khê, với cái tên Thiên Mụ để tưởng nhớ bà trời đó. Lẽ nào? Một sớm mai nào đó, truyền thuyết này bỗng được thay bằng một truyền thuyết khác: “Từ lâu lắm, một bà già tóc trắng xóa, mặc đồ sườn xám, giọng Bắc Kinh khàn khàn vang xa, mỗi khi đêm về…” để Hán hóa truyền thuyết với tên chùa cũng bị Hán hóa. Lẽ nào?
Hai mươi bốn tiếng đồng hồ dừng chân không đủ để hiểu Nha Trang nhiều hơn nhưng, có lẽ, nơi đâu trên đất nước này cũng là những lo toan giống nhau. Ngày mai, tôi từ giã Nha Trang để quay về Sài Gòn. Hai mươi bốn tiếng chỉ đủ để thăm lại những người bạn sau hơn hai mươi năm không gặp. Hai mươi năm đã làm những sợi tóc nhuốm màu nhưng những người bạn vẫn mãi là của những năm xưa…
Nha Trang ngày về (Phạm Duy):
Tôi đến Nha Trang vội vã sau chuyến đi dài qua nhiều thành phố miền trung và cảm thấy người dân quê tôi sao quá đa đoan và vất vả. Cái nóng cháy da đến khô người, theo ánh nắng mùa hè, đổ xuống những mái nhà cũ nát nằm dọc bên lối nhỏ làng quê. Bên trong các ngôi nhà xiêu vẹo ấy là tiếng khóc của người già hay là nụ cười trẻ thơ? Phận người nhỏ nhen, buồn vui trôi nổi theo dòng đời vô định. Đến bao giờ họ mới có thể tìm được một phần nào đó cái dáng vẻ thư thái pha thêm chút ít kiêu kỳ như những người bạn của tôi trên các trang mạng xã hội?
Một ly sinh tố trái cây chất lượng như nhau nhưng có giá khác nhau. Ở Sài Gòn là chừng 60 ngàn đồng, ở ngay trung tâm Huế hay Đà Nẵng là 40 ngàn. Trong khi đó, tại một thị trấn hẻo lánh xa xôi thì nó chỉ vừa 20 ngàn. Thế mới biết, giá trị một món hàng (cũng có khi là một con người) ít phụ thuộc vào chất lượng vốn có mà lại phụ thuộc rất nhiều vào nơi mà nó được sinh ra.
Thế gian này có lắm ma. Những con ma đang ngồi chễm chệ giữa Moskva đe dọa thế giới. Những bóng ma vừa “ngạo nghễ” vừa ngây thơ, khi không biết giá trị của vài chục tỷ đồng trong túi, đang lảng vảng giữa pháp đình Hà Nội. Ma ẩn hiện khắp mọi nơi... Chỉ tội nghiệp cho người dân lam lũ quê tôi. Có khi, họ lại tưởng rằng đó chính là các thiên thần đang bước xuống trần gian để cứu rỗi con người.
Thế nên, đầu óc tôi quay cuồng xoay quanh những mẩu chuyện nhân tình thế thái, không sao tìm được một ý thơ hay để viết về Nha Trang, nơi mà tôi vừa đến. Thôi thì, đành đăng lại bài đã viết về Nha Trang cách đây vài năm (có chỉnh sửa đôi chút) mà, theo tôi nghĩ, sau này tôi cũng khó có thể viết về Nha Trang tốt hơn được nữa.
_________________________________________________
Tôi đến Nha Trang vào lúc trời đã về chiều. Đây là trạm dừng chân cuối cùng của tôi, trước khi trở về Sài Gòn, sau một chuyến đi dài. Nơi này, biển, nắng, gió, bãi cát dài cùng những con người nơi đây đã tạo nên một thành phố thơ mộng.
Nha Trang, biển đầy. Ngọn gió êm ả từ phía xa xa đưa sóng nước lại gần, tuôn dài vào bãi cát, dịu êm, như vỗ về, như thì thầm lời nói yêu thương. Nhìn tia nắng ấm chói chang từ ánh Mặt Trời chiếu xuống mà cứ ngỡ rằng đời người được kết bằng những sợi tơ vàng, kéo dài từ phía trời cao, mong manh giữa biển cả bao la.
Tôi đi dọc theo bãi cát dài. Cát trắng xoá, óng ả sắc vàng. Bãi cát trải dài xa tắp đến ngút ngàn, dẫn về phía chân trời, như một lối mòn đã mở vươn đến cõi thiên thai dành cho người trần thế. Từ xa xa, các ngọn núi mờ ảo nhấp nhô, ẩn hiện sau màn hơi của nước, dường như chúng vừa được sinh ra từ giữa lòng biển xa.
Hãy hít thở mùi hương trong gió thơm thơ, hãy lắng nghe tiếng rì rào của sóng để thấu hiểu chuyện đời của biển. Không một ai, một khi đã đứng trước biển, lại không cảm thấy cái mênh mông đến khôn cùng. Đứng trước biển, kiếp người chỉ là một thoáng vu vơ, giống như con ốc sên cuộn mình trong cát. Nhỏ nhoi.
Đêm nay, tôi nằm đây, nghe “Nha Trang ngày về” mà Phạm Duy đã sáng tác vào năm 1969. Bài hát là một câu chuyện tình năm xưa đã mất, giống như cơn sóng biển xô bờ xoá tan mọi dấu vết của lâu đài trên cát. Mọi thứ như là bọt biển, rồi sẽ dần tan biến vào hư không. Hơn hai mươi năm trước, lần đầu tiên tôi đến Nha Trang giữa cái háo hức tìm kiếm danh vọng đời người. Đêm nay, tôi lại bước trên bãi khuya. Đêm nay không còn trăng soi, tôi không tìm lại được vết chân năm nào. Phôi pha.
Quả là thiếu sót nếu không nhắc đến bác sĩ Alexandre Yersin. Điều gì đã khiến một bác sĩ tài năng từ bỏ danh vọng vừa chớm ở Paris hoa lệ để chọn xóm Cồn nghèo khó cùng những con người nghèo khó làm quê hương thứ hai khi tuổi đời chỉ vừa 27, vào năm 1890? Ông chữa bệnh miễn phí cho người nghèo mặc dù không phân biệt nổi người Việt giàu và nghèo. Ông dạy mọi người mọi thứ có thể. Thật trớ trêu, khi đã từ chối danh vọng thì danh vọng lại tìm đến ông. BS Yersin là người đầu tiên phát hiện vì trùng bệnh dịch hạch (virus mang tên ông), người đầu tiên phát hiện cao nguyên Lâm Viên và thành phố Đà Lạt, người thành lập các viện Pasteur ở Việt Nam... Ông mất năm 1943 giữa vòng tay yêu thương của hàng triệu người Việt và người Nha Trang khi đó.
Cách trung tâm thành phố không xa là một công trình kiến trúc tuyệt đẹp của người Chămpa xưa, mang tên tháp bà Po Nagar.
Tháp bà Po Nagar màu nâu đỏ, cổ kính, uy nghi, nhô cao lên giữa khoảng không tĩnh lặng, được bao phủ bởi một màu xanh thẫm từ những hàng cây cổ thụ rợp bóng. 1300 năm trước (khoảng giữa những năm 700), khi người Giao Chỉ chỉ là “bộ lạc thiểu số” trong một phiên trấn nhỏ bé của đế quốc nhà Đường thì từ nơi đây, một thành đô Chămpa sầm uất, tháp bà Po Nagar của vương quốc Chămpa hùng mạnh, được dựng lên. Đi ngang qua những tháp trụ bát giác bằng gạch nung vút cao, cảm thấy hồn thiên từ những năm xưa hiện về, u ẩn với bao điều kỳ bí không thể thấu hiểu. Văng vẳng từ nghìn năm trước vọng lại là tiếng kinh nguyện cầu từ những buổi tế lễ theo nghi thức Hindu. Hình tượng nữ thần Durga (vợ của thần Shiva) được chạm khắc vào tháp làm cho điệu múa của bà trường tồn cả nghìn năm, không thể phai mờ. Bên trong, ở một góc nhỏ cuối tháp, không gian trở nên lạnh lẽo pha thêm chút ít u ẩn, hình tượng bà Po Nagar, 10 cánh tay, ngồi uy nghiêm trên một phiến đá.
Po Nagar, vị nữ thần Chămpa được tạo nên từ bọt biển và ánh sáng mây trời, được sinh ra từ giữa biển khơi. Khi bà bước lên bờ, cây cỏ bỗng nở hoa thơm ngát, chim chóc hót líu lo vang khắp mọi nơi. Bà dạy cho người trần thế mọi thứ, từ trồng trọt, dệt vải cho đến chăn nuôi và mọi điệu múa.
Lịch sử có khi được viết bằng máu và thấm đẫm nước mắt. Từ xa xa, nhìn vẻ bi tráng bao trùm cả vùng không gian của tháp bà Po Nagar, bị bao vây bởi những ngôi nhà Việt mọc lên lởm chởm, mà nghĩ tới nỗi đau thương uất hận trong lịch sử bang giao Việt – Chămpa khi xưa. Sự hy sinh các công chúa Đại Việt đã viết nên lịch sử. Năm 1306, Huyền Trân về Chămpa để nước Việt có thêm Thuận Hóa. Năm 1631, công chúa Ngọc Khoa của chúa Hiền, Nguyễn Phúc Tần, trở thành hoàng hậu Chămpa thì lập tức vương quốc này bước ngay vào thời kỳ suy vong cuối cùng, không thể cứu vãn.
Năm 1653, đoàn quân Đại Việt tiến vào Kauthara (phiên âm tiếng Việt là Khánh Hòa?). Một làng chài Chămpa nhỏ bé ven biển, có tên Jatrang, được Việt hóa thành Nha Trang. Theo bước đường nam tiến, người Việt từ xa xôi kéo về, lấy đi mọi thứ, Việt hóa mọi thứ từ trong tay người Chămpa. Ngay cả nữ thần Po Nagar cũng phải Việt hóa. Người Việt đã tạo nên một truyền thuyết mới và một cái tên thuần Việt, Thiên Y Thánh Mẫu, cho nữ thần. Po Nagar đã phải lui về một phía để nhường chỗ cho Thánh Mẫu. Thông thường, các nữ thần Hindu luôn có hình tượng bán khỏa thân trong các bức phù điêu hay tranh vẽ. Ban đầu, tượng bà Po Nagar khỏa thân ngồi trên phiến đá đến cả ngàn năm. Thế mà, người Việt đã mặc áo cho bà thành nữ thần Việt, có tên Thiên Y, với chiếc áo vàng của nhà Phật, theo cái cách văn hóa Việt.
Một chiếc áo nhà Phật của người Việt nằm ngay giữa một quần thể kiến trúc và văn hóa Hindu của người Chămpa xưa. Còn gì kỳ lạ hơn?
Lẽ nào? Như một cơn mộng mị buổi ban trưa, tôi chợt nhớ đến truyền thuyết chùa Thiên Mụ ở Huế. Ngày xưa, từ lâu lắm, một bà già tóc trắng xóa, mặc áo đỏ, quần xanh lá, mỗi khi đêm về, bay nhè nhẹ ngang qua những hàng cây cao vút ở đồi Hà Khê với giọng vang xa “Ai xây cho nơi đây một cái chùa thì người đó sẽ thống lĩnh giang san!”. Thế là, sau đó, một ngôi chùa đã được dựng lên ở đỉnh đồi Hà Khê, với cái tên Thiên Mụ để tưởng nhớ bà trời đó. Lẽ nào? Một sớm mai nào đó, truyền thuyết này bỗng được thay bằng một truyền thuyết khác: “Từ lâu lắm, một bà già tóc trắng xóa, mặc đồ sườn xám, giọng Bắc Kinh khàn khàn vang xa, mỗi khi đêm về…” để Hán hóa truyền thuyết với tên chùa cũng bị Hán hóa. Lẽ nào?
Hai mươi bốn tiếng đồng hồ dừng chân không đủ để hiểu Nha Trang nhiều hơn nhưng, có lẽ, nơi đâu trên đất nước này cũng là những lo toan giống nhau. Ngày mai, tôi từ giã Nha Trang để quay về Sài Gòn. Hai mươi bốn tiếng chỉ đủ để thăm lại những người bạn sau hơn hai mươi năm không gặp. Hai mươi năm đã làm những sợi tóc nhuốm màu nhưng những người bạn vẫn mãi là của những năm xưa…
Nha Trang ngày về (Phạm Duy):
Nhận xét
Đăng nhận xét